Tùng Sinh _ PK-PM       

Xin cảm ơn tác giả bài “Pleiku nhìn từ Sở trà Bàu Cạn” (*)       
đã gợi cho tôi ý tưởng để viết bài này.       
       
Xin tặng cho tất cả những ai không còn tuổi thơ.        



     Đã sinh ra trên đời, ai cũng có một quê hương. Cái nơi quê cha đất tổ, nơi cất tiếng khóc chào đời và nơi ta lớn lên không phải bao giờ cũng là một. Vì thế mà nhiều người đã nhận nơi này hay nơi khác là quê hương thứ hai (thậm chí có khi thứ ba) cũng là lẽ thường. Cá nhân tôi cũng ở vào trường hợp như thế. Như bao người dân khác, ba mẹ tôi phải rời mảnh đất nghèo khó ở một vùng quê miền Trung để lên Tây nguyên lập nghiệp khi tôi còn rất nhỏ. Vì thế mà kí ức tuổi thơ của tôi thuộc về quê hương thứ hai: Sở trà Bàu Cạn (cách Pleiku khoảng 20km về hướng Tây), còn bây giờ phố núi Pleiku đối với tôi lại là quê hương thứ ba và cũng là cuối cùng - nếu có thể nói như vậy.
     Cũng vì yêu mến thiết tha và gắn bó lâu dài với Pleiku mà tác giả bài “Pleiku nhìn từ sở trà Bàu Cạn” đã đi ngược thời gian để tìm về lịch sử hình thành và phát triển của Pleiku. Từ đó, đã “phát hiện” ra trong buổi đầu Pleiku phải mua điện từ sở trà Bàu Cạn và trước khi có sân bay Cù Hanh , máy bay của Air VN phải đáp nhờ xuống sân bay Gia Tường (Ia Từng) ở Bàu Cạn.Điều này làm cho tôi cảm thấy thật thú vị và cảm động vì nó gợi nhớ đến người thân và những kỉ niệm thời thơ ấu của tôi Hồi ấy, bọn trẻ con chúng tôi có lần rủ nhau ra sân bay để xem máy bay lên, xuống mà đối với tôi đó là một hiện tượng vô cùng kì thú. Hình như giữa Pleiku và Bàu Cạn đã có một mối cơ duyên từ trước vậy. Chẳng thế mà nhiều cư dân Bàu cạn đã ra Pleiku sinh sống cho đến tận bây giờ nhưng vẫn nhớ về chốn cũ,người xưa đầy ắp những kỉ niệm thân thương, những câu chuyện không phai nhòa theo năm tháng.
     Thời ấy có lẽ con người sống gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên hơn,bằng chứng là có thể “sống chung” với hổ. Ấy, xin quý vị đừng vội cho tôi là người khoác, nói xạo. Hổ và người dễ gì làm bạn với nhau để có thể sống chung ! Nói cách khác, con người sợ hổ như…sợ cọp ,nếu thấy hổ là đã chạy bán sống bán chết hoặc sợ quá mà hóa bủn rủn chân tay mà xỉu luôn tại chỗ !. Ý tôi muốn nói ở đây là hổ và người sống rất gần nhau nhưng… không thấy nhau (ơn trời nếu có ai đó mà gặp hổ trong hoàn cảnh ấy thì đã mất xác từ lâu!!!). Hồi ấy, các ông chủ Pháp đã cho quy hoạch khu dân cư có đường sá đi lại như bàn cờ. Lúc đầu, nhà tôi được bố trí ở vành đai ngoài cùng, nghĩa là con đường trước nhà tiếp giáp với khu vực trồng trà và trà thì lại tiếp giáp với rừng. Vào những năm cuối của thập niên 50 hổ còn nhiều lắm, nhiều đến nổi có những đêm mưa gió mịt mùng, chắc là do đói mồi nên “ông ba mươi” từ đâu trong rừng lảng vảng tìm về khu dân cư. Dù cửa đóng then cài rất chắc chắn nhưng người dân ở đây đều thót tim, không ai dám ra ngoài, lắng nghe mơ hồ có tiếng hổ gầm rú đến ghê rợn lúc gần, lúc xa vẳng lại. Không những thế, trong hầu hết các lô trà vào mùa mưa, công nhân đi hái trà vẫn thường phân biệt được những dấu chân của hổ ở nhiều nơi. Rất may chưa có ai làm mồi cho loài thú dữ này ngoại trừ mấy con bò trong chuồng trại chăn nuôi của sở trà đã từng bị hổ tấn công, làm vật tế thần cho chúng. Tuy nhiên, “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” (Truyện Kiều)- đó là những khi một trong những ông chủ Pháp (rất mê săn bắn mà lúc đó chưa có lệnh cấm như bây giờ) đã bắn hạ được hổ và đem triển lãm ở khu trung tâm của sở trà để khoe tài cầm súng, lòng can đảm và cũng để làm thỏa mãn lòng hiếu kì của người dân khi được nhìn tận mắt chúa tể của rừng xanh nằm sóng soài đo đất.
     Để bảo vệ sản xuất, các nhà quản lý đã nghĩ ra cách thức diệt sâu bọ rất độc đáo. Vào mùa khô, có thời điểm bọ rầy xuất hiện nhiều vô kể và là kẻ thù số một của cây trà. Để diệt trừ lũ phá hoại này, các ông chủ đã cử ra một bộ phận chuyên… mua bọ rầy. Thế là cả người già lẫn trẻ con như chúng tôi, vì không phải tham gia sản xuất cũng có việc làm. Hồi ấy, trục đường chính dẫn vào sở trà là hai hàng thông già thẳng tắp. Cứ đêm đến, người ta gom lá thông khô thành từng đống nhỏ rồi đốt lên để dụ bọ rầy lao vào như những con thiêu thân. Lúc ấy phải nhanh tay lẹ mắt mà bắt chúng đừng để chúng tự thiêu rồi bỏ vào những đồ đựng có lỗ thông hơi để chúng khỏi chết vì nếu để chết thì sẽ không bán được mà coi như diệt giùm cho mấy ông chủ để họ khỏi mất tiền mua (ôi! chủ mà khôn quá thế thì chỉ tội cho dân nghèo). Sau đó, họ sẽ cho đốt hết bọ rầy thành tro bụi trong những lò lửa ở nhà máy. Có nhiều cách bắt bọ rầy, cứ đi tha thẩn ngoài đường, gần các lô trà thế nào cũng thấy. Có những người bắt giỏi đem cân cả bao tải được món tiền kha khá.Thật là một cách diệt sâu bọ nhanh, đơn giản mà hiệu quả, vừa tăng thêm thu nhập cho người dân lại không gây độc hại cho môi trường, cho cây trà.
     Đây là lần đầu tiên trong đời tôi kiếm được đồng tiền bằng chính sức lao động của mình, để phụ vào tiền mua sách vở, mua quà vặt và những thứ linh tinh khác.
     Thiên nhiên ở đây cũng rất hào phóng ban tặng cho con người nhiều sản vật, mùa nào thức ấy. Vào những ngày giáp tết, ba tôi thường được cho mượn xe hơi chở tôi vào rừng để chặt mai- một thứ không thể thiếu trong mỗi nhà của người dân ở đây trong dịp xuân về. Để phục vụ cho thú săn bắn, các ông chủ Pháp cho làm những con đường ngang dọc xuyên rừng để xe hơi có thể chạy được. Thỉnh thoảng, những con gà rừng bay hoảng loạn trước đường xe đi, hoặc một vài con nai hay mang- loại thú cùng họ với nai, giật mình co giò chạy mất hút… Khi tìm thấy vùng có nhiều mai, ba tôi tha hồ lựa chọn tùy thích để chất lên xe và thế nào cũng chọn được một cành vừa khúc khuỷu, vừa thanh tao với những nụ hoa sẽ nở đúng như mong đợi.


(Lô trà bên cạnh hồ Ia Mur thuộc đội số 2, phía xa là núi Hàm Rồng_ Ảnh LHTV)


     Trong tất cả những chuyện mà tôi còn nhớ có lẽ cái lớp học của thầy giáo Hồng để lại một dấu ấn sâu đậm trong suốt thời học tiểu học của tôi. Đến đây tôi xin thắp một nén tâm hương để tưởng nhớ người thầy đã hết lòng hết sức vì học trò mình. Đó là một lớp học đặc biệt mà tôi từng biết vì có cả từ lớp vỡ lòng cho đến lớp nhất (tức là lớp 5 bây giờ). Bây giờ nghĩ lại tôi không biết thầy Hồng đã phải xoay sở như thế nào để vừa bảo đảm nội dung và phương pháp học tập cho 5 lớp khác nhau cùng một lúc vừa giữ được trật tự cho HS ở khác lưá tuổi như thế. Thầy giảng bài rất dễ hiểu và tận tâm, giảng cho đến khi nào học trò hiểu được bản chất của vấn đề mới thôi. Thầy xử lí những sai trái của học trò rất nghiêm khắc, công minh và bằng roi vọt, “giáo pháp” bất vị thân-kể cả con cái của thầy cùng học với chúng tôi hay con em của các sếp cũng vậy. Không biết có phải thầy muốn thực hiện đúng câu “thương cho roi cho vọt” không mà lúc nào cái roi tre dài cũng để trên bàn đầy uy quyền và đe dọa sẽ không tha cho bất cứ trò nào phạm lỗi. Thế nhưng ở ngoài lớp học tức là ngoài tầm kiểm soát của thầy thì bọn trẻ lại hiện nguyên hình là” nhất qủy, nhì ma, thứ ba học trò “. Ngoài những trò đùa nghịch phổ biến của học trò ra, vào mùa mưa, bọn tôi còn dùng các lon sắt tây đục lỗ cột dây để đi như cà khoeo đến lớp cho khỏi bị dơ chân, đôi khi bị ngã lăn cù còn lấm lem cả người và sách vở. Học trò của thầy lớp nào ra lớp ấy, không “nhầm lớp” bao giờ, tỉ lệ đậu vào lớp đệ thất ở tỉnh rất cao nên thầy thường phải chối từ nhiều phụ huynh dẫn con em đến xin học lớp tư thục của thầy vì quá tải, dù ở đây vẫn có một trường công bài bản hẳn hoi. Năm ấy, có 3 HS lớp 5 của thầy là Đặng Xuân Bính, Nguyễn Bùi Hiến và tôi đều đậu vào lớp đệ thất và cùng học lớp đệ thất 2 của trường Trung học Pleiku nk 65-66.( Tôi xin nói thêm tác giả của “Pleiku nhìn từ sở trà Bàu cạn“ và tác giả “Lớp đệ thất 2 và tôi” đã đăng ở trang THPK là một ). Thế là mỗi người một quê không hẹn mà cùng hội ngộ ở lớp Đệ thất 2 đáng nhớ ngày ấy.
     Gần một nửa thế kỉ đã qua đi, biết bao thay đổi, thăng trầm. Cảnh đã khác xưa, kẻ còn người mất nhưng kí ức của tuổi thơ vẫn sống mãi trong tiềm thức đến một lúc nào đó chợt hiện về như mới hôm qua. Nếu có thể sống lại quá khứ lần nữa tôi vẫn muốn được trải qua đoạn đời ở sở trà Bàu cạn để tôi được sống lại thời tuổi nhỏ êm đềm,ấm áp và vui tươi trong tình yêu thương của ba mẹ với tuổi học trò đầu đời thơ dại, hồn nhiên, giữa những con người tuy vất vả mà sống rất chan hòa, và còn để cho tôi được đắm mình giữa thiên nhiên trong mát, hữu tình nơi đây…
     Đó còn là nơi mà tôi muốn quay về như để tìm lại sự yên bình của tâm tư.


    Tùng Sinh _ PK-PM.


(*) đăng trên pleikucafe.com